Ngày 26/8/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 337/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tiếp cận thông tin (Luật số 01/2026/QH16), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2026. Đây là văn bản hướng dẫn quan trọng, cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức đối với thông tin do cơ quan, đơn vị nắm giữ, đồng thời đặt ra những yêu cầu, trách nhiệm cụ thể mà các cơ quan, đơn vị cần chủ động rà soát, triển khai thực hiện. Nghị định gồm các nội dung hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Tiếp cận thông tin 2026, tập trung vào bốn nhóm vấn đề chính:
1. Nghị định quy định 06 biện pháp bảo đảm quyền tiếp cận thông tin (Điều 2 Nghị định), áp dụng chung cho các cơ quan, đơn vị, bao gồm:
- Đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật, ứng dụng công nghệ số trong cung cấp thông tin phù hợp với điều kiện thực tế của cơ quan, đơn vị, địa phương.
- Vận hành, duy trì và phát triển cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử, cổng dữ liệu, các kênh thông tin, trang cộng đồng chính thức; đồng thời duy trì, lưu giữ, cập nhật, quản lý cơ sở dữ liệu thông tin bảo đảm có hệ thống, đầy đủ, dễ tra cứu, tải về, sử dụng; thực hiện các biện pháp kỹ thuật, quy trình để quản lý, bảo vệ thông tin theo quy định.
- Nâng cao chất lượng công tác văn thư, lưu trữ, thống kê; trang bị phương tiện để người yêu cầu được sao, chụp, tải về văn bản, hồ sơ, tài liệu, trừ trường hợp pháp luật liên quan có quy định khác.
- Tăng cường cung cấp thông tin qua hoạt động của người phát ngôn, trên phương tiện thông tin đại chúng và qua Internet.
- Bồi dưỡng năng lực, chuyên môn, nghiệp vụ cho người được giao nhiệm vụ cung cấp thông tin.
- Bố trí hợp lý nơi tiếp nhận, giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin phù hợp điều kiện từng cơ quan, đơn vị.
2. Nghị định hướng dẫn các biện pháp bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho nhóm đối tượng đặc thù – người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn – theo hướng cơ quan, đơn vị phải căn cứ vào từng đối tượng để có biện pháp phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi.
3. Nghị định quy định rõ trách nhiệm rà soát, phân loại, kiểm tra và bảo đảm tính bí mật của thông tin trước khi cung cấp (hướng dẫn khoản 4 Điều 11 Luật). Đây là nội dung có ý nghĩa quan trọng đối với các cơ quan, đơn vị đang quản lý nhiều loại thông tin có tính chất nhạy cảm, cần được rà soát, phân loại chặt chẽ trước khi công khai hoặc cung cấp theo yêu cầu.
4. Nghị định quy định chi tiết trình tự, thủ tục cung cấp thông tin theo yêu cầu và ban hành kèm theo các mẫu văn bản sử dụng trong quá trình này (Điều 9 và Phụ lục Nghị định), đồng thời cho phép cơ quan, đơn vị tiếp nhận hồ sơ được khai thác dữ liệu điện tử (dữ liệu dân cư) để đối chiếu, xác thực thông tin của người yêu cầu cung cấp thông tin – một điểm mới giúp đơn giản hóa thủ tục xác minh danh tính người yêu cầu. Nghị định cũng hướng dẫn việc cung cấp thông tin theo yêu cầu cho công dân thông qua tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp (khoản 2 Điều 29 Luật).
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/9/2026. Nghị định số 13/2018/NĐ-CP ngày 23/1/2018 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Tiếp cận thông tin hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.
Xem thông tin chi tiết Nghị định số 337/2026/NĐ-CP tại đây.