Trung tâm công nghệ sinh học Thành Phố Hồ Chí Minh
 

Bản tin cây trồng công nghệ sinh học ngày 03/04/2013 đến ngày 10/04/2013 (Phần 2)

Thứ ba - 09/04/2013 19:26

Châu Á và Thái Bình Dương

 

Báo cáo ISAAA về cây trồng GM được trình bày ở Bangladesh

 

Phó hiệu trưởng Đại học Nông nghiệp Bangladesh, Giáo sư Tiến sĩ M. Rafiqul Hoque đã khai mạc hội thảo công bố báo cáo của ISAAA về  trạng toàn cầu về thương mại hóa cây trồng công nghệ sinh học / GM vào 25/3/2013. Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của ấn phẩm này đối với cả các bên liên quan về công nghệ sinh học đặc biệt là các nhà khoa học.

 

Giáo sư Tiến sĩ KM Nasiruddin, Điều phối viên quốc gia của ISAAA tại Bangladesh đã trình bày tóm tắt nội dung chính của ấn phẩm. Điều phối viên Quốc gia của Chương trình an toàn sinh học Nam Á (SABP), Giáo sư Tiến sĩ Md Imdadul Hoque, Trưởng khoa Khoa học sinh học, Đại học Dhaka giải thích các giải pháp về pháp lý thuận lợi cho công nghệ sinh học. Tiến sĩ GP Das, Điều phối viên Quốc gia của Dự án hỗi trợ công nghệ sinh học trong nông nghiệp II (ABSPII) có bài nói về xây dựng năng lực công nghệ sinh học, quá trình và kết quả khảo ngiệm trong phạm vi hẹp đối với cà tím Bt, RBPotato và Gold Rice.

 

Trung tâm Thông tin Công nghệ sinh học Bangladesh (BdBIC) của ISAAA phối hợp với Hiệp hội Công nghệ sinh học Bangladesh và kỹ thuật di truyền (BABGE) tổ chức Hội thảo này với sự tham dự của 100 đại biểu.

 

Để biết thêm tin tức về công nghệ sinh học ở Bangladesh, liên hệ với Tiến sĩ Khondoker Nasiruddin theo

email:  nasirbiotech@yahoo.com.


Hội thảo về nâng cao nhận thức, giáo dục và sự tham gia của công chúng về vận chuyển , xử lý và sử dụng an toàn LMOs tại Hà Nội

 

Bộ Tài nguyên và Môi trường của Việt Nam và Ban Thư ký BCD phố phối hợp tổ chức Hội thảo đào tạo khu vực Châu Á-Thái Bình Dương về nâng cao nhận thức, giáo dục và sự tham gia của công chúng vào quá trình vận chuyển, xử lý và sử dụng an toàn sinh vật biến đổi (LMO) từ 25 đến ngày 29 tháng 3 năm 2013 tại Hà Nội, Việt Nam. Tham gia các hội thảo có các đại biểu đến từ các nước trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương như  Bangladesh, Bhutan, Campuchia, Fiji, Indonesia, Hàn Quốc, Lào, Malaysia, Maldives, Mông Cổ, Pakistan, Philippines, Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam, và Yemen. Hội thảo khai mạc trong sự hiện diện của Tiến sĩ Nguyễn Đồng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường. Ông Charles Gbedemah, Cán bộ chính, Phòng an toàn sinh học, Ban thư ký CBD, ông Erie Tamale, Cán bộ chương trình, Phòng an toàn sinh học, Ban thư ký CBD, Tiến sĩ Phạm Anh Cung, Cục trưởng Cục Bảo tồn đa dạng sinh học, Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Cuộc hội thảo tập huấn dài này một tuần nhằm mục đích giới thiệu cho những người tham gia các khái niệm có liên quan, các công cụ, văn bản và thảo luận về các chiến lược để tăng cường hợp tác khu vực và tiểu khu vực trong việc thực hiện Chương trình công tác về nâng cao nhận thức, giáo dục, và sự tham gia của cộng đồng liên quan đến việc vận chuyển, xử lý và sử dụng an toàn LMOs. Hội thảo cũng giúp nâng cao sự hiểu biết về Nghị định thư bổ sung Nagoya-Kuala Lumpur về trách nhiệm pháp lý và bồi thường và tìm hiểu cơ hội và thách thức liên quan đến việc phê chuẩn và thực hiện Nghị định này.

 

Để biết thêm thông tin về hội thảo này liên hệ với Hiến Lê tại hientttm@yahoo.com hoặc Lê Đức Linh tại ldlinh@gmail.com.


Bảo tàng Khoa học đầu tiên của Việt Nam vào năm 2018

 

Việt Nam sẽ mở bảo tàng khoa học đầu tiên của mình trên địa bàn tỉnh Đồng Nai vào năm 2018. Các công việc tại thực địa sẽ bắt đầu vào năm 2015 với tổng số vốn đầu tư ước tính khoảng 60-70 triệu USD. Ông Phạm Văn Sáng, Giám đốc Khoa học và Công nghệ Đồng Nai  cho biết bảo tàng sẽ được đặt trong một diện tích 250.000 mét vuông tại xã Xuân Dương, huyện Cẩm Mỹ.

 

Bảo tàng sẽ có ba phần chính đó là một phần trình bày tĩnh, một phần triển lãm đặc biệt và một khu vực triển lãm ngoài trời. Phần trưng bày sẽ bao gồm các khoản mục về lịch sử khoa học, cũng như hình ảnh minh họa những thành tựu trong tất cả các lĩnh vực khoa học bao gồm địa chất, vật lý, hóa học, sinh học và khoa học môi trường…

 

Xem thêm tại http://www.thanhniennews.com/index/pages/20130308-vietnam-to-have-its-first-science-museum-in-2018.aspx


Bio- XCell và Agila Biotech hợp tác xây dựng cơ sở nghiên cứu Công nghệ sinh học trị giá RM107M tại Johor

 

Bio XCell Sdn Bhd và Agila Công Biotech Sdn Bhd vừa ký một thỏa thuận xây dựng và cho thuê trị giá 107 triệu RM để cùng nhau phát triển một cơ sở nghiên cứu công nghệ sinh học tại Nusajaya, Johor. Biotech XCell sẽ cung cấp RM67.32 triệu như thỏa thuận với Agila Biotech, bao gồm việc xây dựng và một phần các thiết bị.

 

Trong khi đó, Agila Biotech sẽ tài trợ cho tất cả các thiết bị hiện đại liên quan, dịch vụ tích hợp và thử nghiệm của dự án theo hình thức chìa khóa trao tay  (khoảng 13 triệu USD đến 15 triệu USD). Bio-Xcell cho biết tại đây việc sản xuất các sinh phẩm dự kiến ​​sẽ bắt đầu ngay khi có thể. Công tác nghiên cứu và phát triển và các thiết bị sản xuất dự kiến ​​sẽ được đưa vào hoạt động từ cuối năm 2014.

 

Agila Biotech (Malaysia) cũng có kế hoạch để kết hợp cơ sở này với cơ sở của Bio-XCell với các nền tảng công nghệ của "thế hệ tiếp theo" có thể thay đối cách các sản phẩm của phân tử sinh học được phát triển, sản xuất và thương mại hóa. Agila Biotech (Malaysia) tham gia đầu tiên cùng với Biocon (Ấn Độ), MetEx (Pháp ) và Glycos Biotechnologies (Hoa Kỳ) vào Bio-XCellecosystem. Các hệ sinh thái ở Bio-XCell được thiết kế cho công nghệ sinh học trong công nghiệp và y tế , chú trọng vào sản xuất và R & D.

 

Để biết thêm thông tin về vấn đề này, liên hệ với Bio-Xcell tại +603 2116 855 / +607 277 3647 hoặc theo email: info@bio-xcell.my.



Châu Âu
 

Các nhà khoa học để phát triển ngô đó có thể tự tạo ra phân bón

 

Quỹ Bill và Melinda Gates Foundation (BMGF) vừa trợ cấp một dự án nghiên cứu nhằm phát triển một giống ngô có thể tạo ra phân bón riêng của mình. Xét trên quy mô toàn cầu, điều này có thể dẫn đến việc giảm sử dụng phân bón nhân tạo và ô nhiễm môi trường.

 

Nhóm các nhà khoa học chịu trách nhiệm về dự án nghiên cứu này được dẫn đầu bởi Giáo sư Jens Stougaard của Đại học Aarhus ở Đan Mạch. Trước nghiên cứu này, Stougaard đã dẫn đầu một nhóm nghiên cứu và phát hiện ra cách cây họ đậu có khả năng thiết lập sự cộng sinh với vi khuẩn có thể sử dụng nitơ trong không khí để loài cây này tạo ra phân bón riêng của mình.

 

Nếu dự án này thành công, phương pháp này sẽ được có hai ưu điểm là rẻ và bền vững cho nông dân. Giá rẻ, bởi vì cơ chế bón phân được đưa vào trong hạt giống mà họ sử dụng. Bền vững, bởi vì sử dụng phân bón là không cần thiết, do đó tránh được ô nhiễm môi trường. Về lâu dài, kết quả có thể tạo ra tác động đáng kể trên toàn thế giới vì nó có thể làm giảm - hoặc thậm chí loại bỏ - sử dụng phân bón nhân tạo và do đó giảm ô nhiễm môi trường.

 

Xem thông cáo báo chí của Đại học Aarhus tại http://mbg.au.dk/en/news-and-events/news-item/artikel/super-maize-can-put-sustainable-food-on-the-table/.


EFSA: ngô GM 59122 an toàn đối với sử dụng làm thực phẩm và thức ăn gia súc

 

Cơ quan An toàn thực phẩm châu Âu đưa ra ý kiến khoa học về đánh giá rủi ro đối với việc phát hành thương mại ngô biến đổi gen 59122 làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi và canh tác. Theo GMO Panel của EFSA sản phẩm GM này dường như không có bất kỳ ảnh hưởng xấu đến môi trường, ngoại trừ cho sự phát triển tính kháng protein Bt ở sâu bệnh mục tiêu. Vì vậy, Tiểu ban đề nghị thực hiện các chiến lược quản lý tính kháng sâu bệnh thích hợp và giám sát các trường hợp cụ thể. Tiểu ban cũng tuyên bố loại ngô này an toàn giống như các giống đối chứng thông thường và các giống ngô thương mại đã thương mại hóa về các tác dụng phụ có thể có đối với sức khỏe con người và động vật.

 
Xem thêm tại http://www.efsa.europa.eu/en/efsajournal/pub/3135.htm

Trạm nghiên cứu Rothamsted nộp hồ sơ về lúa mì trồng vào mùa thu kèm theo kết quản khảo nghiệm GM

 

Trạm Nghiên cứu Rothamsted đã nộp đơn cho Bộ Môi trường, Thực phẩm và Nông thôn (Defra) của Vương quốc Anh để kéo dài quá trình khảo nghiệm giống lúa mì biến đổi gen (GM) hiện nay nhằm đưa thêm giống lúa mì cadenza gieo trồng vào mùa thu. Các nhà khoa học của Rothamsted cho rằng điều đó tạo thuận lợi để có thêm dữ liệu từ thí nghiệm của họ ở cây lúa mì được trồng tại các thời điểm trong năm và trong điều kiện thời tiết khác nhau với quần thể rệp vừng khác nhau qua đó cung cấp cho họ dữ liệu bổ sung theo điều kiện môi trường đa dạng hơn.

 

Vì khí hậu ôn đới của Anh cho phép cây lúa mì phát triển vào mùa đông, lúa Cadenza có thể gieo vào trong hoặc mùa thu hoặc mùa xuân và đều được thu hoạch vào tháng tám / tháng chín. Vì thế, kéo dài thời gian thí nghiệm sẽ tiếp tục tăng thêm sự  liên quan của kết nghiên cứu với  nông dân Anh và những người ở vùng khí hậu ôn đới khác bằng cách đưa vào biến số môi trường có phạm vi rộng. Sự thay đổi về thời tiết kiểu này đặc biệt rõ ràng tại Vương quốc Anh trong vòng 12 tháng qua.

 
Xem thêm tại http://www.rothamsted.ac.uk/PressReleases.php?PRID=219

 Nghiên cứu
 

Đồng thể hiện AtbHLH17 và AtWRKY28 nhằm cải tiến tính kháng stress phi sinh học của Arabidopsis

 

Các nhà khoa học kiểm soát sự thích ứng với stress của thực vật bằng cách làm thay đổi sự biểu hiện của gen đặc thù trong những tiến trình truyền tín hiệu rất phức tạp. K.C. Babitha và ctv. thuộc Đại Học Khoa Học Nông Nghiệp Ấn Độ đã cho biểu hiện thành công AtbHLH17 (AtAIB) và AtWRKY28, là các yếu tố phiên mã (TFs) đã được biết trong phản ứng “upregulated” khi bị stress do khô hạn và ô xi hóa, theo thứ tự, trong cây Arabidopsis. Họ đã phát triển sự biểu hiện phân tử cassette có tính chất “multigene” với hai gen này, cũng như gen “reporter” GUS đóng vai trò như một kỹ thuật dòng hóa có tính chất “gateway” cải tiến. Chính cassette mang tính chất “multigene” như vậy đã được hợp nhất vào bộ gen một cách thành công, cho phản ứng xét nghiệm GUS và phân tích biểu hiện transgene của cây Arabidopsis biến đổi gen. Dưới điều kiện stress bởi mannitol, sự phát triển rễ mạnh mẽ hơn rất có ý nghĩa được quan sát trong cây GM. Sự tăng trưởng dưới điều kiện bị stress như vậy và sự phục hồi tăng trưởng thường cao hơn một cách có ý nghĩa trong cây GM so với cây bình thường; trên cơ sở stress khô hạn kéo dài. Hơn nữa, các nhà nghiên cứu này còn ghi nhận rằng sự biểu hiện của những gen đích ở “downstream” tương ứng với nhiều điều kiện stress khác nhau. Một vài gen có cả nguyên tố cis của WRKY hoặc bHLH trong promoter của chúng, biểu hiện mức độ phiên cả rất cao so với loại hình nguyên thủy (wild type). Tuy nhiên, các gen này không có cả hai mô típ; không khác biệt gì hết trong những mức độ biểu hiện ra bên ngoài khi bị stress so với cây nguyên thủy. Theo kết quả nghiên cứu ấy, sự kiện đồng thể hiện hai hoặc nhiều hơn số phân tử TFs có thể dẫn đến hiện tượng “upregulation” của nhiều gen đích ở downstream và thúc đẩy tính chống chịu stress tốt hơn cho cây trồng.

Xem thêm tại http://link.springer.com/article/10.1007/s11248-012-9645-8.

Ngoài lĩnh vực cây trồng công nghệ sinh học

 

Giải mã bộ gen của loài cánh cứng đục gỗ thông Dendroctonus ponderosae

 

Các nhà nghiên cứu thuộc Đại Học Northern British Columbia và ĐH Alberta đã giải mã bộ gen của con bọ cánh cứng đục gỗ thông, có tên tiếng Anh là: mountain pine beetle, và tên khoa học là: Dendroctonus ponderosae, côn trùng này phá hại các rừng thông ở British Columbia, Canada. Đây là loài bọ cánh cứng thứ hai được giải trình tự sau sự kiện giải trình tự của con “red flour beetle”, Tribolium confusum. Những cá thể của loài có sự biến thiên di truyền gấp bốn lần so với bộ gen người. Nhóm nghiên cứu đã khám phá được một gen của vi khuẩn có tác dụng chuyển gen vào bộ gen của loài bọ cánh cứng. Gen này mã hóa một enzyme tiêu hóa được đường, giúp chúng phát triển tốt hơn trong môi trường. Theo Christopher Keeling, một trong những tác giả của công trình nghiên cứu này, sự hiểu biết về genome của bọ cánh cứng này sẽ giúp người ta quản lý tốt hơn dịch hại trong tương lai.

 
Xem thêm tại http://www.publicaffairs.ubc.ca/2013/03/26/mountain-pine-beetle-genome-decoded/.

Khai thác bộ gen của rùa

 

Các nhà khoa học của nhiều Viện nghiên cứu khác nhau đã giải trình tự của bộ gen loài rùa “western painted turtle” tên khoa học là Chrysemys picta bellii, một trong những loài phổ biến nhất, được nghiên cứu nhiều nhất hiện nay. Theo những dữ liệu có được, loài rùa này di chuyển chậm chạp, và mức độ tiến hóa xét theo genome học cũng rất chậm chạp so với các loài động vật khác. Rùa “painted turtle” được biết như một loài động vật xương sống chống chịu được sự thiếu ô xi trong máu (anoxia-tolerant) tốt nhất. Chúng có khả năng sống được 4 tháng dưới nước, tùy theo tình trạng nhiệt độ nước. Theo những tác giả nghiên cứu đề tài này, genome của rùa có thể cho chúng ta một sự hiểu biết cặn kẽ về cách quản lý bệnh tật của con người có liên quan đến sự rối loạn do thiếu ô xi trong máu (anoxia) và hạ thân nhiệt (hypothermia).

 

Xem thêm tại  http://genomebiology.com/2013/14/3/R28/abstract.

 
Nguồn: http://www.agbiotech.com.vn/vn/?mnu=preview&key=4080

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Dịch Vụ - Chuyển Giao
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây